[House] Utada Hikaru

Thảo luận trong 'Thế giới ngôi sao' bắt đầu bởi phuongbin, 30/8/11.

  1. phuongbin

    phuongbin New Member

    [​IMG]

    Tên thật: Utada Hikaru, còn được cái fan gọi một cách trìu mến là Hikki.
    Ngày sinh: 19/01/1983
    Nơi sinh: Manhattan, New York
    Chinese Zodiac: Dog
    Nhóm máu: A
    Cao: 1m58 or less
    Nhạc cụ: Piano (ưa thích), Guitar
    Ước mơ thuở bé: trở thành hoạ sĩ Mange hay nhà khoa học
    Động vật: Mèo
    Màu sắc: Xanh dương
    Từ hay dùng: Kuso (糞, くそ - nghĩa là chết tiệt)
    Món ăn ưa thích: pho mát, Tokoroten (món Nhật --> 1, 2, 3), món Thái, Việt Nam, Nattou (1, 2, 3), Bleu Cheese, Spicy foods and vinegar (known to put vinegar on anything, in ten days she uses up a whole bottle, she even sometimes just dilutes it and drinks it straight)
    Trò chơi điện tử: Dr. Mario, Tetris
    Ghét: đèn, ánh sáng huỳnh quang; nấm, Tissue Box Covers, Toilet Seat Covers, trang điểm ngoài, Hamburger nhân nướng.
    Phim ưa thích: Being John Malkovich, Brazil, Tasogare Seibei (The Twilight Samurai), Lost Highway, π (The 1998 film), The Shawshank Redemption, The Godfather Part II, The Jerk, Unbreakable, Orlando, Amadeus, Sleepy Hollow, Miyazaki Hayao animations
    Văn học Nhật: Nakagami Kenji's 'Izoku', Akutagawa Ryuunosuke's 'Rashomon', Kawabata Yasunari's 'Kanjou Soushoku' and 'Yukiguni', Mori Ougai's 'Takasebune', Natsume Souseki's 'Kokoro' and 'Kusamakura', Miyazawa Kenji's 'Shishuu ga Suki', Mishima Yukio's 'Kinkakuji'
    Văn học phương Tây: Herman Hesse's 'Siddhartha', Roald Dahl's 'Tales of the Unexpected', Shel Silverstein's 'Where the Sidewalk Ends' and 'A Light in the Attic', Edgar Allan Poe texts, Elie Wiesel's 'Night', John Berendt's 'Midnight in the Garden of Good and Evil', F. Scott Fitzgerald's 'The Great Gatsby', George Orwell's '1984'.
    Thích các nghệ sỹ: Aaliyah, At the Drive-in, Bela Bartok, Björk, Blink182, Blue Man Group, Bon Jovi, Brandy, Cocteau Twins, Craig David, Dr. Dre, Edith Piaf, Elvis Presley, Enigma, Erykah Badu, Freddie Mercury, Garbage, GLAY, Guns N'Roses, Guru, Incubus, Janet Jackson, Jeff Buckley, Jimi Hendrix, Joe, Kate Bush, Lauryn Hill, Led Zeppelin, Madonna, Mary J. Blige, Maxwell, Metallica, Minnie Riperton, Miles Davis, Missy Elliot, Mozart, Nine Inch Nails, No Doubt, Ozaki Yutaka, Pearl Jam, Prince, Queen, Radiohead, Sada Masashi, Slash (Guns 'n' Roses), Sting, The Beatles, The Cure, The Eagles, The Police, TLC, Trent Reznor, U2, Velvet Revolver, Stevie Wonder, Leah Dizon, Monica,2pac,Babyface, Hibari Misora and Michael Jackson
    Album ưa thích: Jeff Buckley's 'Grace'
    Fun Fact: Utada likes when blood is being drawn and the sound of gun fire.
    Khi không có ý tưởng, Hikki hay tắm bồn, tập Yoga tại nhà.
    Chị thích cuốn sách Emily The Strange đến nỗi tự dịch ra tiếng Nhật riêng cho mình đọc.
    Thích nghe nhạc mà có âm thanh thật.....

    Hikaru tiếng Nhật nghĩa là "ánh sáng". Cô sinh ra trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc. Cha là Utada Teruzane, nhà sản xuất và là một nhạc sĩ lâu đời. Mẹ cô, Fuji Keiko (tên diễn), một ca sĩ nhạc ballad nổi tiếng ở Nhật những năm 70. Khi còn nhỏ, cô thường phải đến phòng thu âm thường xuyên vì cha mẹ làm việc ở đó. Năm 3 tuổi, ba mẹ của Hikaru bắt buộc cô phải học piano. Thoạt đầu thì cô rất ghét âm nhạc vì bị bắt buộc mọi thứ, nhưng dần đà khi lớn lên, cô bắt đầu cảm thấy cuốn hút bởi nó.

    Fuji Keiko - Mẹ của Hikki

    Âm nhạc của Utada bị ảnh hưởng rất nhiều từ cha, người rất yêu nhạc rock. Các ban nhạc mà cha cô yêu thích bao gồm những tên tuổi lớn như The Beatles, Queen, The Eagles, Bon Jovi và Guns n Roses.

    Bản thân học ở New York, Hikki cũng chịu ảnh hưởng của trào lưu nhạc R&B, thịnh hành ở khu vực này. Cô thường nói bài hát đầu tiên mở đường cho cô đến với R&B là bài Age Ain’t Nothin’ But A Number do ca sĩ hip-hop nổi tiếng Aaliyah hát. Việc tiếp xúc với nhiều thể loại âm nhạc ngay từ nhỏ đã giúp định hình một phong cách âm nhạc tuyệt vời mà chúng ta thưởng thức ngày nay.

    Lên 8, Hikaru bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình trong nhóm U3, thành lập bởi gia đình Utada vào năm 1990. Nhóm bao gồm cả 3 thành viên cuả gia đình. Album đầy tiên của U3 "U*STAR" ra đời vào 09/1993, trong đó có 2 bài được viết bởi cô bé 10 tuổi Hikaru: Thank you và Kodomotachi no Utaga. Hikaru cũng chính là người vẽ bìa cho album này. Đáng tiếc là cũng như các album khác được nhóm cho ra đời, "U*STAR" không gặt hái được thành công nào đáng kể, và đến năm 1997 thì ban nhạc tan rã.


    Album đầu của U3 - Ban nhạc gồm 3 thành viên gia đình của Hikki

    Hikaru quyết định theo đuổi sự nghiệp solo của mình, dưới tên Cubic U. Single đầu tiên I'll be stronger được phát hành bởi hãng băng đĩa Liquid Sound Lounge, và không lâu sau đó, Precious - album tiếng Anh ra mắt người nghe. Tuy nhiên, cho đến lúc này, cô vẫn chưa thu hút được sự chú ý của fan Nhật.


    Precious

    Trong một ngày thu âm cùng năm, Hikaru gặp Miyake Akira, một nhà sản xuất nhạc của Toshiba EMI đang làm việc ở một phòng thu gần đó. Bị cuốn hút ngay lập tức bởi giọng hát và vóc người của Hikaru, Miyake thuyết phục cô sản xuất album ở Nhật dưới tên của hãng EMI.



    Tháng 8/1998, Hikaru có buổi live đầu tiên trong Music Talks, một chương trình giới thiệu tài năng âm nhạc mới của Nhật. Tự giới thiệu mình là Utada Hikaru, cô trình bày bài hát nổi tiếng Sukiyaki (bài hát duy nhất trong lịch sử của Nhật trở thành hit ở Mỹ), và bài Automatic. Chỉ 2 tháng sau, cô cho ra đời single đầu tiên Automatic/Time Will Tell, tạo một làn sóng ủng hộ cuồng nhiệt từ phía người nghe ở Nhật và nhiều quốc gia Châu Á khác. Ngày 10/03/1999, First love - album đầu tiên, ra đời. Đến cuối tháng 3, album này đã bán được trên 3.5 triệu bản, và hơn 10 triệu bản tính cho đến giờ. First love đã trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử Nhật Bản.


    Automatic/Time Will Tell - 1998
    Single đầu tiên của Sự nghiệp ca hát


    First Love - 1st Album - 1999
    Đã bán hơn 10 triệu bản tính cho đến giờ

    Sau thành công của First Love, một Single mới Addicted To You mới đã đc phát hành vào cuối năm 1999, tiếp tục giúp Hikki đứng đầu nhiều bảng xếp hạng. Năm 2000, Utada lại tung ra Single Wait & See ~Risk~ lại làm cho cái tên Utada Hikaru trở nên tất yếu hơn trong làng giải trí Nhật Bản.


    Addicted to You - 1999


    Wait & See ~Risk~
    Wait & See ~リスク~ - 2000

    Vào lúc này, Hikki đã mở 1 tour liveshow mang tên BOHEMIAN SUMMER Circuit Live 2000 trong suốt cuộc nghĩ hè của her, tổng cộng lour diễn ra trong vòng 16 ngày, sau khi kết thúc chuyến show, Hikki lại trở lại làm việc và xuất lò For You / Time Limit , single thứ 3 sau First Love, tất nhiên... lại dẫn đầu.


    BOHEMIAN SUMMER Circuit Live 2000


    Mặt trước For You


    Mặt sau For you
    For You / Time Limit
    For You / タイム・リミット- 2000
    Bìa được thiết kế 2 mặt cho 2 nhạc phẩm bên trong.

    Sau Tour diễn và Single, Hikki đã nghĩ đến việc dừng sự nghiệp ca hát để tiếp tục học tại Columbia University in New York, nhưng dù gì thì cô cũng ko làm như thế...

    Đầu năm 2001, Hikki tiếp tục phát hành Single thứ tiếp theo mang tên Can You Keep A Secret?, Đấy là 1 single ko chỉ giành giải Song of the Year trong Golden Disc Award, còn là Bài hát đứng #1 của năm (tất nhiên là năm cũ)


    Can you keep a Secret ? - 2001

    Không lâu sau đó, Album thứ 2 - Distance ra lò, một album mém tí tí nửa là thành album bán chạy nhất trong năm 2001 với lượng đĩa bán ra hơn 5 triệu rưỡi bản. Và đấy cũng là Album rinh giải Pop Album of The Year trong Golden Disc Award.


    Distance - 2'nd Album 2001

    Sự nghiệp của cô cũng chưa đạt đến đỉnh điểm, dù sự lên dốc của Hikki rất căng.

    Tiếp tục, Utada đã nghe được một bé học sinh nhỏ tuổi tên Yamashita Rena (山下玲奈) đã bị mất vì bị một kẻ bất lương bắn, và theo nguồn tin từ báo chí, nguyện vọng của bé là "Em muốn trỡ thành 1 ca sĩ như chị Utada vậy, em muốn được hát bên cạnh cô ấy". Chính sự bi kịch này, Hikki đã chỉnh sửa lại bài DISTANCE trong tình trạng nước mắt thành FINALDISTANCE hát theo phong cách ballad.

    Đó chính là sự thương xót cho nỗi đau của bé nữ sinh từ Hikki.


    Final Distance - 2001

    PV của FINAL DISTANCE mang rất đậm những ý nghĩa sâu sắc: I...wanna be with you now...

    Bắt đầu từ lúc này, PV của Utada ngày càng trở nên đẳng cấp khi cỗ làm việc chung với Kiriya Kazuaki. Nhờ có sự giúp đỡ của Kiriya Kazuaki, Những PV sau này của Hikki ngày càng lộng lẫy và sâu đậm ý nghĩa, người xem có thể cảm nhận được lời, nhạc hòa trộn 1 suất sắc...

    Cuối năm 2001, Single Traveling ra mắt, đó là 1 bài Up-Beat thời thượng... Best Female Video, theo đúng nghĩa đó, Utada khá nhí nhảnh và màu mè trong Single này.


    Traveling - 2001

    Tháng 3 năm 2002, Single Hikari (光) phát hành, đây chính là con đường đưa cái tên Utada vào thị trường nhạc OST của game, điều này khiến cho UH xâm nhập vào tâm trí của dân làng game, và đó là Kingdom Heart. Simple and Clean là version tiếng nhật của Hikari (光) (trong single Colors - 2003).


    Hikari

    Light- 2002

    Single kế típ với "bài hát mà nghe dễ bị ghiền" (theo lời của rất rất nhiều người phát biễu) Sakura Drops/Letters. PV của Sakura drops được xếp vào hạng "nặng cân" trong tuyển tập của Kiriya. Ngoài ra Sakura drops được mua lại để làm nhạc quảng cáo cho DoCoMo. Về giải thưởng thì Best Female Video trong MTV JAPAN awards, Song of the Year trong giải Golden Disc Award. Tuy nhiên bài số 2, Letters ko đc làm PV, và chỉ đc coi là track phụ, dù khá là hay.


    Sakura Drops / Letters
    SAKURAドロップス / Letters - 2002

    Sau khi đã tích tụ đủ nội công, DEEP RIVER album được khai sinh vào ngày 19-06-2002 "bên trong" những thành công.



    Deep River - 3'rd Album - 2002

    Vào tháng 9-2002, Hikki làm đám cưới, và chồng chính là Kiriya Kazuaki, hơn UH 15 tuổi, tất nhiên cô vẫn không ngần ngại về tuổi tác.

    Sau những đợt sóng vỗ mạnh ko ngừng, UH cũng phát hành lại những tuyển tập Single Collection, để người mua dễ dàng sưu tầm. hiện tại đã ra tới UH Single collection 4...


    Colors - 2003

    Quay lại tiểu sử của her, Sự thành công trong những năm qua đã giúp cho UH có niềm tin hơn, và bắt đầu tấn công sang thị trường Quốc Tế... và đó chính là hàng loạt single cùng với Album Exodus.


    Easy Breezy - 2004


    Easy Breezy - 2004


    Exodus - 1st English Album - 2004

    Ngoài ra, cô hát nhạc chính của phim Rush Hour 2 cùng với ca sĩ nhạc rap Foxy Brown. Bài hát tên Blow My Whistle, được sản xuất bởi một trong những hãng nhạc hip-hop của Mỹ: Neptunes.

    Cuối năm 2003, Hikki kí hợp đồng với Island Def Jam để sản xuất album tiếng anh, đồng thời sử dụng tên Utada (bỏ đi chữ Hikaru ở đầu) làm tên chính thức đối cho thị trường này. Utada sẽ có mặt trong album UNITY nhân dịp Olympic mùa hè 2004 ở Athen trong bài By Your Side (hát với Timbaland và Kiley Dean).

    Mùa thu năm 2004, Hikki phát hành album đầu tay tại Mỹ, Exodus, với tên riêng rút gọn thành Utada. Mặc dù phối hợp với Timbaland sáng tác và sản xuất nhiều bài hát, album này thất bại tại thị trường quốc tế, do thiếu sự quảng bá phù hợp. Exodus vẫn được #1 tại Nhật, nhưng số lượng tiêu thụ có giảm sút so với 3 album trước, có lẽ do những thử nghiệm dance và hip hop của cô. Mặc dù vậy, Utada cũng đã vươn đến #1 Billboard Hot Dance/Club Airplay với 2 ca khúc: Devil Inside và You Make Me Want to Be a Man.


    Devil Inside - 2004


    You make me want to be a man - 2005

    Và sau đó Hikki vẫn tiếp tục thống trị #1 bảng xếp hạng = hàng loạt những single nặng phong cách đặc trưng của cô...


    Dareka no Negai ga Kanau Koro
    誰かの願いが叶うころ
    When somone's wish comes true - 2004


    Be my last - 2005

    Năm 2006, Utada trở về thị trường Nhật Bản thành công, với Be My Last đánh dấu #1 single thứ 11 của her. Single Passion cũng nhanh chóng nổi tiếng trong giới gamers khắp nơi, khi nó trở thành bài hát chủ đạo cho Kingdom Hearts II. Tháng 5, Utada phát hành digital single đầu tiên This Is Love[/i, và bài hát này đã nhanh chóng dẫn đầu iTunes JP.


    Passion - 2005

    Đối với Passion,là nhạc cho game Kingdom Heart 2, nhưng chĩ có thể dành cho bản Nhật, vì thế version tiếng anh được xây lại lyric cho phiên bản KH2 tiếng Anh.

    Sau 1 năm, bên cạnh sự quay lại của sóng gió bị cản trở, bước qua năm 2006 những ngày tháng 2, signle thứ 16 của UH được phát hành mang tên Keep Tryin' với những giai điệu phấn chấn đầy sự sống và niềm tin. Lại 1 lần nữa Hikki lại gặt được những con thành công.


    Keep Tryin' - 2006

    Bên cạnh Keep Tryin', track số 2 đó là Wings, 1 bài hát ballad hay nhưng rất ít biết hơn so với track chính.

    Và rồi......Album Ultra Blue rốt cục cũng phát hành cùng tháng 6 với single Keep Tryin' , và trở thành album thứ 3 của cô đứng đầu United World Charts, một thành tích chưa nghệ sĩ châu Á nào làm được.


    Ultra Blue - 4'th Album - 2006

    Ultra blue[/i bao gồm những single tinh tuyển tính từ album Deep River trước "gộp" lại...
    Cuối năm ấy, Boku wa Kuma ra đời, "tôi là gấu" là 1 track dành cho chương trình thiếu nhi Minna no Uta bộc lộ sự dễ thương của gấu pha Hikki.


    Boku wa Kuma
    ぼくはくま
    I'm Bear - 2006

    Đầu năm 2007, Hikki lại đúc kết ra nhạc phẩm Flavor Of Life và cho ra single cùng tên, Flavor Of Life là bài nhạc chuông được tải nhiều nhất tại Nhật. Ở dạng digital, ca khúc này đã được download 3 triệu lần. Và Flavor Of Life cũng được add vào làm OST chính thức của J-drama Hana Yori Dango 2


    Flavor of Life - 2007

    Sau Flavor Of Life, giữa tháng 3, Hikki li dị với Kiriya. Lí do là vì bất đồng giữa 2 bên, vì vậy cuộc hôn nhân 4 năm rưỡi kết thúc.

    Dù vậy, nhưng UH vẫn dự tính là tháng 8-2007 sẽ ra mắt single mới và đó chỉ có thể là


    Beautiful World / Kiss & Cry

    Beautiful World là theme song của Anime Movie EVANGELION Shin Gekijouban: Jo

    Kiss & Cry cũng được chuyển bản quyền để làm nhạc quảng cáo cho Hãng Nissin...

    Trong khoảng thời gian này, Hikki ko đề cập gì đến cuộc sống hay sự tan vỡ của hôn nhân, chỉ âm thầm và âm thầm.

    Cho đến khi dân tình phát hiện ra 1 đoạn nhạc quảng cáo cho Asience, một hãng sản xuất dầu gội, là tiếng ngân nga của UH, đoạn nhạc đã làm xao lòng fan, sự kì vọng mong đợi và khát khao.

    Cho đến khi EMI chính thức báo tin: HEART STATION / Stay Gold sẽ là single kế tiếp của Utada Hikaru....Cuộc sống của cô lúc này đã trở lại bt, đối với fan đó là niềm vui cho cô, nhưng sự mất mát Kiriya, một đạo diễn tài giỏi, cũng khiến cho fan khá ngậm ngùi... bởi sau khi chứng kiến PV của Heart Station, sự đơn giản trở nên tông chủ đạo.


    Heart Station / Stay Gold - 2007

    Không bao lâu sau single Heart Station, album thứ 5 của cô cũng được xuất xưởng. Đó là album trùng tên HEART STATION 19/03/2008 vừa qua.


    HEART STATION - 2008

    Trong đó bao gồm cả những single sau album Ultra Blue năm 2006 trở lại, được coi là album đặc sắc hơn và phong cách mới hơn với Hikki đã li hôn.

    Track thứ 9, Prisoner of Love là theme song của bộ phim Last Friend, sau này cũng được trích ra làm single.


    Prisoner of Love - 2008

    Prisoner of love là single 2 dĩa gồm CD+DVD, ngoài bản original version đã có trong album thứ 5 HEART STATION, thì còn 1 bản hát mix lại -quite version-, còn DVD chính là PV kể lại những chuỗi ngày viết bài POL này.

    Hiện tai, Hikki đang chuẩn bị cho Album tiếng anh thứ 2,thử sức lại sau thất bại của Exodus 4 năm về trước.

    Giải thưởng Awards
    * [1999] (Yusen Awards) Top Award "Special Prize"
    * [1999] (Yusen Awards) Top Award "Best New Artist"
    * [1999] (Record Awards) Best Album (First Love)
    * [1999] (Record Awards) Best Song (Automatic)
    * [2000] (Golden Disc) Artist of the Year
    * [2000] (Golden Disc) Song of the Year (Automatic, Movin' on without you, Addicted To You)
    * [2000] (Golden Disc) Pop Album of the Year (First Love)
    * [2000] (Golden Disc) Music Video of the Year (SINGLE CLIP COLLECTION VOL.1)
    * [2000] (World Music Awards) Best-Selling Japanese Artist
    * [2000] (JASRAC) Gold Award (Automatic)
    * [2000] (JASRAC) Silver Award (time will tell)
    * [2001] (Golden Disc) Song of the Year (Wait & See ~Risk~, For You / Time Limit)
    * [2002] SSTV Best Art Direction Video (Traveling)
    * [2002] SSTV Best Female Video (Traveling)
    * [2002] SSTV Best Video of the Year (Traveling)
    * [2002] SSTV Best Music Video (Traveling)
    * [2002] (Golden Disc) Song of the Year (Can You Keep A Secret?)
    * [2002] (Golden Disc) Song of the Year (Traveling)
    * [2002] (Golden Disc) Pop Album of the Year (Distance)
    * [2002] JASRAC Silver Award (Can You Keep A Secret?)
    * [2003] (World Music Awards) Best-Selling Japanese Artist
    * [2003] J-WAVE Best Female Artist
    * [2003] SSTV Best Female Video (SAKURA Drops)
    * [2003] MTV JAPAN Best Female Video (SAKURA Drops)
    * [2003] (Golden Disc) Artist of the Year
    * [2003] (Golden Disc) Song of the Year (Hikari)
    * [2003] (Golden Disc) Song of the Year (SAKURA Drops)
    * [2003] (Golden Disc) Song of the Year (COLORS)
    * [2003] (Golden Disc) Rock & Pop Album of the Year (Deep River)
    * [2003] (Golden Disc) Music Video of the Year (Traveling)
    * [2003] JASRAC Silver Award (Traveling)
    * [2003] JASRAC Silver Award (Foreign Production) (Hikari)
    * [2004] AMD Award for Best Music Composer (UH LIVE STREAMING 20 Dai wa Ikeike!)
    * [2005] (Golden Disc) Song of the Year (Dareka no Negai ga Kanau Koro)
    * [2005] (Golden Disc) Rock & Pop Album of the Year (Utada Hikaru SINGLE COLLECTION VOL. 1)
    * [2005] (Golden Disc) Music Video of the Year (Utada Hikaru in Budokan 2004 'Hikaru no 5')
    * [2006] (Golden Disc) Song of the Year (Be My Last)
    * [2007] (Golden Disc) Rock & Pop Album of the Year (ULTRA BLUE)